TRƯỜNG THCS BA KHÂM
TRƯỜNG THCS BA KHÂM
huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Điện thoại: 055.8500915 - Email: c2bakhambt.quangngai@moet.edu.vn
02:07 +07 Thứ ba, 23/10/2018
RSS

Giới thiệu Website

Thời khóa biểu

Lịch công tác

  • Ảnh 01
  • Ảnh 02
  • Ảnh 03

Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Tìm kiếm Google

Chia sẻ Facebook

Bạn bè, người thân

Banner quảng cáo online

Quảng cáo truyền hình

Bảng, biển, tờ rơi QC

Các hình thức QC khác

Quảng cáo
Bộ GD&ĐT
Thi toán online

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 4


Hôm nayHôm nay : 21

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 828

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 31030

Trang nhất » Tin tức » Tin tức - sự kiện » Tin nội bộ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2016-2017

Thứ sáu - 21/04/2017 08:14
Cách tổ chức hoạt động cặp - nhóm có hiệu quả trong môn tiếng Anh lớp 6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2016-2017

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2016-2017

CHƯƠNG 1
 
PHẦN MỞ ĐẦU
 
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.1. Cơ sở lí luận.
Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế, đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức sôi động như hiện nay. Như chúng ta đã biết việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường phổ thông đã có những thay đổi lớn về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy để phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặt ra cho bộ môn này trong chương trình. Quan điểm cơ bản nhất về phương pháp mới là làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và tạo điều kiện tối ưu cho học sinh rèn luyện, phát triển và nâng cao khả năng, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp chứ không phải việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ thuần tuý. Với quan điểm này, các thủ thuật và hoạt động trên lớp học cũng đã được thay đổi và phát triển đa dạng. Chính vì thế người dạy cần nắm bắt những nguyên tắc chính của phương pháp mới và tìm hiểu các thủ thuật và hoạt động dạy học theo quan điểm giao tiếp sao cho có thể áp dụng được một cách uyển chuyển, phù hợp và có hiệu quả.
Một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh là phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức hoạt động thảo luận hoặc làm bài tập được thực hiện trong từng tiết học mà người giáo viên đã phải nghiên cứu . Ngày nay, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã tổ chức chương trình nghiên cứu “Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh”. Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Để đạt được mục đích này việc thay đổi phương pháp dạy học là rất cần thiết.
Với phương pháp dạy học trong đó thầy cô giáo là người tổ chức giúp đỡ hoạt động học tập của học sinh, còn học sinh là người chủ động tham gia vào quá trình hoạt động học tập. Hoạt động cặp - nhóm là hoạt động chủ yếu không thể thiếu được trong một tiết học. Hoạt động này làm cho các em cảm thấy thích và hứng thú hơn trong học tập từ đó đem lại kết quả học tập cao hơn, các em tự tin hơn.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
   Là một giáo viên được nhà trường phân công dạy môn tiếng Anh lớp 6 trong nhiều năm qua, tôi thấy rằng các em học sinh lớp 6 rất ngỡ ngàng và nhút nhát. Trường của tôi là một điểm trường thuộc vùng đặc biệt khó, các em là người dân tộc H’re. Những ngày đầu tiên tôi gặp các em, tôi cảm thấy có rất nhiều ánh mắt hồn nhiên. Tôi biết rồi đây các em sẽ tiếp cận với một môn học mới – môn tiếng Anh. Môn học này cũng không khó lắm nhưng nó đòi hỏi sự năng động, hợp tác và sáng tạo ở các em. Các em học sinh của tôi lại không có những tố chất đó. Đó là điều đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi nghĩ mình phải làm sao đó lôi cuốn được các em, để từ đó tạo động lực học tập, tạo hứng thú cho các em. Tôi cứ loay hoay nghĩ cách này cách kia, và cuối cùng tôi cũng nghĩ ra một cách đó là phương pháp tổ chức các hoạt động trên lớp. Nói cụ thể là cách tổ chức hoạt động cặp – nhóm cho các em. Việc làm này nói ra thì nghe quá quen nhưng cách tổ chức của tôi có nhiều điểm khác để nó hỗ trợ cho việc dạy của chính tôi, cho học sinh của tôi.
 
 
 
 
CHƯƠNG 2
 
PHẦN NỘI DUNG
 
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
- Thời gian: từ năm học 2015-2016 đến năm học 2016-2017
- Địa điểm:  tại Trường THCS Ba Khâm
2.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
   2.2.1. Thuận lợi:
- Phong trào học ngoại ngữ hiện nay trong xã hội đang phát triển vì mọi người nhìn thấy tầm quan trọng của việc sử dụng ngoại ngữ trong việc giao tiếp với người nước ngoài, trong công việc làm ngày nay. Điều đó góp phần ảnh hưởng tích cực đến việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường.
- Được sự quan tâm sâu sát của các cấp lãnh đạo ngành, ban giám hiệu trường nên việc dạy học môn tiếng Anh ngày nay có nhiều bước phát triển tốt.
- Sự phát triển của công nghệ thông tin đã góp phần rất lớn cho việc dạy ngoại ngữ. Nó thật sự là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho người dạy và người học dễ dàng tiếp cận, tiềm kiếm những gì còn thắc mắc, những gì muốn nghiên cứu.
   2.2.2. Khó khăn:
- Học sinh ở địa bàn miền núi, nhà các em cách xa trường. Gia đình các em rất nghèo, rất khó khăn nên sự quan tâm giành cho con rất ít. Từ đó cũng dẫn đến việc tự ý thức học tập của bản thân các em rất hạn chế.
- Các em là học sinh ở vùng sâu, vùng xa nên kiến thức còn nhiều hạn chế, chưa hiểu được tầm quan trọng của tiếng Anh và chưa thực sự tích cực khi học tập, đặc biệt là ở hoạt động “Cặp – Nhóm”. Trong khi môn học này đòi hỏi người học phải thật sự năng động, tham gia tích cực vào các hoạt động trong quá trình học.
- Thời gian cho mỗi một tiết học có hạn nhưng nội dung bài học lại không ít, nên thời gian cho học sinh trao đổi thảo luận và luyện tập cặp, nhóm cũng có hạn.
2.2.3. Kết quả đạt được:
Năm học 2015-2016: Kết quả môn tiếng Anh
Lớp 6 Kết quả học kì I Kết quả học kì II
27 học sinh Khá: 0 chiếm 0%
Tb: 20 chiếm 74.07%
Yếu: 7 chiếm 25.93%
Khá: 7 chiếm 25.93%
Tb: 16 chiếm 59.26%
Yếu: 4 chiếm 14.81%
 
Năm học 2016-2017: Kết quả môn tiếng Anh
Lớp 6 Kết quả học kì I Kết quả học kì II
19 học sinh Khá: 3 chiếm 15.79%
Tb: 16 chiếm 84.21%
Yếu: 0 chiếm 0%
Khá:
Tb:
Yếu:
2.2.4. Những mặt còn hạn chế:
- Mặc dù số lượng học sinh khá có tăng lên, học sinh yếu có giảm xuống nhưng tỷ lệ học sinh yếu vẫn còn.
- Chưa có học sinh giỏi.
2.2.5. Nguyên nhân đạt được và nguyên nhân hạn chế:
2.2.5.1. Nguyên nhân đạt được:
- Nhờ có những phương pháp tổ chức động cặp - nhóm hợp lí trong quá trình lên lớp nên đã lôi cuốn được các em tham gia. Từ đó tạo được sự hứng thú của các em đối với môn học.
- Trong quá trình lên lớp, bản thân đã sử dụng hoạt động cặp, hoạt động nhóm đúng lúc, đúng vào từng mục đích yêu cầu của bài học từ đó các em có cảm giác rất thoải mái khi tham gia, các em rất tự tin vì các em đã tham thường xuyên, cũng từ đó tạo được tính năng động, sáng tạo và làm chủ bản thân của từng em học sinh.
- Các em được học tập trong một không khí hòa đồng, đoàn kết và sẵn sàng được giúp đỡ khi cần.
- Giáo viên luôn đưa ra những yêu cầu vừa sức, hợp lí và rất cụ thể cho từng cặp, từng nhóm.
- Trong quá trình các em thực hành theo cặp – nhóm, giáo viên luôn theo dõi, quan sát để có những đánh giá đúng, để có những lời động viên, lời khen đúng lúc cho các em.
2.2.5.2. Nguyên nhân hạn chế:
- Do các em đang sống ở vùng khó khăn, điều kiện kinh tế xã hội rất khó khăn, môi trường xung quanh còn nhiều lạc hậu nên có nhiều kiến thức phổ thông nhưng đối với các em vẫn như điều gì đó rất xa lạ. Điều này gây khó khăn rất nhiều cho những lúc gọi các em lên trao đổi, cho các em làm các hoạt động cặp – nhóm.
- Có một số em ngại trao đổi, ít nói nên cũng khó khăn hoạt động cặp – nhóm.
- Các em hay có thái độ phân biệt nam nữ nên không bắt cặp với nhau hay làm nhóm chung với nhau.
 
 
CHƯƠNG 3
 
PHẦN GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
 
3.1. CĂN CỨ THỰC HIỆN
          - Nghị quyết Số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua
          - Công văn số: 1460/SGDĐT-GDTrH ngày 10/9/2015 của Sở GD&ĐT Quảng Ngãi
V/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2015-2016
          - Công văn số: 1432/SGDĐT-GDTrH ngày 07/9/2016 của Sở GD&ĐT Quảng Ngãi
V/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2016-2017
          - Công văn số: 696/ GDĐT ngày 23/9/2016 của Phòng GD&ĐT Ba Tơ
V/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học cơ sở năm học 2016-2017
3.2. NỘI DUNG, GIẢI PHÁP VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN
3.2.1. Nội dung:
3.2.1.1. Khái niệm cặp – nhóm và hoạt động cặp – nhóm:
- Cặp là tập hợp hai con người có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực hiện các mục tiêu chung và riêng.
- Nhóm là tập hợp từ hai người trở lên có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực hiện các mục tiêu chung và riêng.
- Hoạt động cặp – nhóm trong dạy học (hay còn gọi là dạy học hợp tác) là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên làm việc cùng nhau trong những cặp hay nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích học tập chung đã đặt ra. Trong hoạt động cặp – nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp: giữa học sinh với nhau, giữa giáo viên với từng học sinh.
- Hoạt động nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức mới. Trong hoạt động nhóm, quá trình học tập trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau về kiến thức, kĩ năng và phương pháp học tập, kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác.
- Dạy học theo cặp – nhóm là một hoạt động học tập có sự phân chia học sinh theo từng cặp, từng nhóm nhỏ với đủ thành phần khác nhau về trình độ, cùng trao đổi ý tưởng, nguồn gốc kiến thức dựa trên cơ sở là hoạt động tích cực của từng cá nhân. Từng thành viên trong nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của bạn bè trong nhóm. Đây là một phương pháp giảng dạy khá ưu việt, cho phép rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh, hiện đang được áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học và đặc biệt môn tiếng Anh.
3.2.1.2. Đặc điểm của dạy học theo cặp – nhóm:
- Hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp, mô hình giờ học truyền thống.
- Việc phân chia cặp – nhóm học sinh vừa tuân theo đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi – nhận thức của học sinh, vừa phụ thuộc vào nhiệm vụ học tập học sinh cần phải giải quyết.
- Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên, phải cùng hợp tác, trao đổi giải quyết nhiệm vụ chung của nhóm.
         - Học sinh phải trực tiếp tham gia các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ học tập được đặt ra cho mỗi nhóm.
- Giáo viên là người thiết kế các nhiệm vụ học tập và đưa ra các hoạt động cụ thể cho từng nhóm. Giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn chứ không phải là người đưa ra kiến thức, tìm ra kiến thức.
- Học sinh là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của hoạt động học tập. Dạy học theo cặp – nhóm  là sự tác động trực tiếp giữa học sinh với nhau, cùng nhau thảo luận và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập. Mỗi cá nhân phải có ý thức tự hoàn thành nhiệm vụ của mình. Thành công của từng cá nhân là thành công của nhóm.
- Giáo viên là người tổ chức và đạo diễn. Trong giờ học theo nhóm, giáo viên dẫn dắt học sinh khám phá, lĩnh hội kiến thức qua từng bước. Các nhóm học sinh tiến hành các hoạt động, qua đó có thể rút ra các tri thức, kiến thức cần thiết cho mình. Giáo viên là người tổ chức, điều khiển học sinh tự tiến hành các hoạt động nghiên cứu, tìm tòi kiến thức.
3.2.1.3. Ý nghĩa của dạy học theo cặp – nhóm:
+  Phát triển kĩ năng hợp tác:
- Hoạt động cặp – nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh mẽ và linh hoạt, có những đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho học sinh thích ứng với sự phát triển, đó là mỗi người sống và làm việc theo sự phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng.
- Sau thời gian làm việc nhóm, tình đoàn kết, ý thức tập thể sẽ tăng lên nhờ sự thông hiểu lẫn nhau. Đồng thời các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ các quy định, trước hết là của nhóm. Đây là tiền đề để sau này học sinh là những công dân tuân thủ pháp luật tốt.
+  Phát triển kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác:
- Học sinh có nhiều cơ hội thảo luận, tranh luận, phát biểu bình đẳng, thể hiện sự hiểu biết của mình và học hỏi kinh nghiệm của bạn. Qua đó rèn luyện cho các em cách trình bày, bảo vệ quan điểm của mình, cách thuyết phục và thương lượng trong giải quyết vấn đề và biết cách lắng nghe người khác cũng như phát triển những kĩ năng phê bình, phân tích, giải quyết vấn đề.
- Qua hoạt động nhóm, bên cạnh hình thành và phát triển cho HS khả năng làm việc hợp tác còn có các năng lực xã hội như năng lực lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, xử lý xung đột, cổ vũ, động viên… Học sinh trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp.
+ Tác động đến ý thức học tập của học sinh:
- Dạy học hợp tác tạo ra nhiều cơ hội cho các em được hoạt động giải quyết vấn đề học tập, đưa các em vào thế chủ động tìm tòi kiến thức.
- Tác động tích cực đến động cơ, sự nhận thức và cả phương pháp học tập, có ích cho việc tự học sau này.
- Phát huy cao độ năng lực học tập cá nhân, ý thức được khả năng của mình, nâng cao niềm tin vào việc học tập.
+ Tạo tâm lý thoải mái cho HS:
- Khi làm việc theo cặp – nhóm, học sinh cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc làm việc một mình. Các em được sự hỗ trợ, hợp tác trong nhóm nên tự tin hơn, vì thế việc học sẽ đạt kết quả cao hơn.
        + Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề:
- Trong các lớp học mang tính hợp tác, học sinh phải tham gia các hoạt động đòi hỏi học sinh phải sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén, học được tính kiên trì trong việc theo đuổi mục đích, nâng cao được khả năng phê phán, tu duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫn nhau.
+ Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, nguồn thông tin vào việc giả quyết các tình huống khác nhau.
+ Lớp học sôi động hơn do có nhiều hình thức hoạt động đa dạng.
         + Ngoài những tác động về mặt nhận thức, dạy học hợp tác theo cặp – nhóm còn tác động cả về quan niệm xã hội như:
- Cải thiện quan hệ xã hội giữa các cá nhân.
- Tôn trọng các giá trị dân chủ.
- Chấp nhận sự khác nhau về cá nhân và văn hoá.
- Có tác dụng làm giảm lo âu và sợ thất bại.
+ Giáo viên cũng có cơ hội tận dụng những ý kiến, kinh nghiệm của học sinh.
3.2.2. Phương pháp thực hiện:
          Để có một tiết học tiếng Anh ở lớp 6 thành công thì tiết học đó phải là một tiết học sôi nổi, có sự trao đổi và hoạt động tích cực của học sinh. Muốn được như vậy thì người giáo viên phải biết cách tổ những hoạt động phù hợp, cụ thể là hoạt động cặp – hoạt động nhóm. Qua sự nghiên cứu, tìm tòi của bản thân về khái niệm, đặc điểm, những ý nghĩa của hoạt động dạy học theo cặp – nhóm và quá trình dạy học của bản thân.  Từ đó, bản thân đã rút ra được một số kinh nghiệm rất quý báu trong quá trình tổ chức hoạt động cặp – nhóm cho các em học sinh lớp 6. Để tổ chức được hoạt động cặp – nhóm trong một tiết dạy tiếng Anh lớp 6 thành công, chúng ta phải làm theo những nguyên tắc sau:
3.2.2.1. Phụ thuộc tích cực
Mỗi thành viên chỉ thành công khi những người bạn trong nhóm cũng thành công. Môi trường có sự phụ thuộc tích cực khuyến khích học sinh chia sẻ kiến thức, thông tin và sự bổ trợ nhau ở mức cao nhất với mong muốn cả mình và nhóm đều hoàn thành công việc.
- Mục đích học tập cùng nhau: mỗi thành viên đều hoàn thành phần công việc được giao và kiểm tra để các thành viên khác cùng hoàn thành.
-  Phần thưởng hoặc điểm chung.
- Phân chia công việc.
-  Phân chia vai trò.
3.2.2.2. Trách nhiệm cá nhân.
Trách nhiệm và phần việc cá nhân phải được phân công rõ ràng và có sự kiểm tra đánh giá với các thành viên còn lại . Nhóm phải biết từng thành viên đang làm gì, gặp khó khăn, thuận lợi gì. Nguyên tắc này đảm bảo không ai có thể làm hết mọi công việc trong khi những người khác ngồi chơi. Mục đích của việc học nhóm là để rèn luyệncho mỗi cá nhân sau này thành những thành viên riêng lẻ mạnh mẽ.
3.2.2.3. Tương tác tích cực trực tiếp
Các thành viên trong nhóm phải có tối đa các cơ hội để giúp đỡ, động viên, khuyến khích lẫn nhau trong quá trình làm việc. Việc các thành viên trong nhóm trực tiếp làm việc cùng nhau không những thúc đẩy các hoạt động học mà còn tạo được tình đoàn kết gắn bó, tôn trọng và bình đẳng. Nhóm phải được sắp xếp để làm việc trực tiếp và ngồi đối diện với nhau trong một nhóm nhỏ có số lượng thành viên không quá 4.
3.2.2.4. Kĩ năng xã hội
Các thành viên phải được cung cấp các kiến thức về kĩ năng xã hội cần thiết trước khi hoạt động cặp – nhóm. Kĩ năng xã hội không tự nhiên mà có mà phải được truyền thụ và dạy dỗ. Kĩ năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giao tiếp, xử lý xung đột, cổ vũ, động viên, nhận xét, lắng nghe, trình bày, báo cáo,…là những kiến thức xã hội mà mỗi thành viên cần phải được đào tạo để đảm bảo quá trình hoạt động cặp – nhóm  có hiệu quả.
3.2.2.5. Đánh giá rút kinh nghiệm
Các thành viên phải có cơ hội thảo luận và nhận xét về quá trình làm việc của nhóm ở các nội dung sau:
-   Nhóm đã hoàn thành mục tiêu đề ra chưa?
-   Nhóm đã làm việc hiệu quả chưa?
-   Mối quan hệ giữa các thành viên đã tốt chưa?
-   Những việc gì các thành viên làm nên được lặp lại?
-   Những việc gì không nên? Tại sao?
Việc đánh giá này giúp các thành viên:
-   Tập trung vào việc xây dựng nhóm.
-   Học các kĩ năng xã hội.
-   Tạo cơ hội để mỗi thành viên có thể nhận xét và lắng nghe ý kiến của bạn.
3.2.3. Giải pháp thực hiện:
3.2.3.1. Thành lập cặp – nhóm  học tập
- Để hoạt động cặp – nhóm thực sự có hiệu quả, ngay từ đầu năm học giáo viên nên tìm hiểu phân loại học sinh về nhận thức, năng lực, hoàn cảnh, phẩm chất làm tiền đề cho việc chia cặp – nhóm.
- Khi chia nhóm, có thể chọn phương án 6 học sinh trong một nhóm chia thành 3 cặp đôi cho phù hợp với điều kiện của lớp học; sắp xếp các thành viên vào một nhóm, sao cho các thành viên nhóm càng đa dạng càng tốt.
- Nhóm hoạt động có hiệu quả là nhóm gồm các thành viên có năng lực đa dạng: Khả năng nhận thức cao, trung bình và thấp, đa dạng về thành phần xuất thân, điều kiện kinh tế, môi trường sống ... Với nhóm như vậy, mỗi một vấn đề cần giải quyết sẽ chứa đựng sự cân nhắc toàn diện hơn.
- Giai đoạn đầu, giáo viên cố gắng để đạt được các yêu cầu sau: Mỗi nhóm đều có 1 nhóm trưởng có năng lực điều hành (sau này sẽ luân phiên thay đổi), có 1 thành viên trong ban học tập. Nếu có thể thì có đủ các thành viên trong các ban, cân bằng lượng nam nữ trong nhóm; có 3 đôi bạn cùng bàn có thể giúp nhau tiến bộ.
3.2.3.2. Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm
- Các thành viên trong nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng. Sau mỗi hoạt động nhóm, các thành viên cần thay đổi vai trò cho nhau, tránh tình trạng mỗi thành viên chỉ đóng một vai trò trong thời gian quá lâu. Vai trò của các thành viên trong một nhóm bao gồm:
+ Nhóm trưởng: Là người nhận nhiệm vụ từ giáo viên, điều hành hoạt động của nhóm, giải thích rõ nhiệm vụ hoạt động của nhóm, tóm tắt, kiểm tra sự hiểu biết vấn đề trao đổi, thống nhất ý kiến của nhóm, xây dựng bầu không khí ấm áp, giải quyết các "mâu thuẫn" trong quá trình hoạt động nhóm. Với vai trò này, học sinh cần có nhiều năng lực hơn, đặc biệt là năng lực quản lí, giám sát và hướng dẫn bạn. Nhóm trưởng hoạt động trong nhóm như một thầy cô giáo của một lớp học nhỏ
+ Thư kí: Ghi chép, tóm tắt mọi ý kiến, tổng hợp ý kiến, đồng thời cùng các thành viên trong nhóm trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao của nhóm, ghi lại sự tiến bộ của bạn để báo cáo thầy cô.
+ Báo cáo viên: Thay mặt các thành viên trong nhóm báo cáo kết quả làm việc của nhóm mình và giải trình ý kiến thắc mắc trước lớp, đồng thời cùng các thành viên trong nhóm trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao qua từng hoạt động.
+ Các thành viên: Trao đổi, bàn bạc, chia sẻ, đóng góp, thống nhất chung ý kiến về nhiệm vụ được giao.
3.2.3.3. Hướng dẫn tổ chức hoạt động nhóm
Giáo viên có thể chia lớp thành 5 nhóm học tập, cho các em tự đặt tên cho nhóm dựa vào đặc trưng của nhóm. Các em tự làm và trang trí biển tên nhóm, quy định việc bố trí sắp xếp các đồ dùng dùng chung trong nhóm hay của từng cá nhân cho phù hợp.
Qua việc này, mỗi nhóm đều có ‘‘bản sắc’’ riêng, hứng thú và đoàn kết, có trách nhiệm với nhau trong việc đề ra các quy định riêng của nhóm và tự giác thực hiện.
Mỗi nhóm đều có đôi bạn cùng bàn, nếu có thể giáo viên sắp xếp một học sinh giỏi, một học sinh yếu hoặc một học sinh năng động, một học sinh rụt rè nhút nhát hay hai học sinh cùng lực học để giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ.
Khi giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, ngôn từ của giáo viên phải rõ ràng, mạch lạc để đảm bảo cho học sinh hiểu rõ tránh thất bại trong hoạt động giải quyết nhiệm vụ. Có thể hỏi thêm những câu hỏi phụ để kiểm tra xem học sinh đã hiểu nhiệm vụ được giao chưa.
Những câu hỏi phụ đảm bảo cho sự trao đổi hai chiều, đảm bảo việc giao nhiệm vụ thực hiện một cách có hiệu quả và đảm bảo học sinh sẵn sàng bắt tay vào hoàn thành nhiệm vụ đó.
Các vấn đề đưa ra cho học hợp tác nhóm được biên soạn trong phiếu học tập hoặc viết bảng phụ và chỉ giao một lần. Các phiếu được biên soạn đơn giản, rõ mục đích, có tính trực quan cao, không rườm rà, gây khó hiểu hoặc mất thời gian.
Khi bắt đầu làm việc, nhóm trưởng lên nhận tài liệu từ cô giáo hoặc trưởng ban học tập, sau đó phát cho các bạn và phân công các thành viên trong nhóm, mỗi người một việc, sau đó cá nhân làm việc độc lập rồi từng em đưa ra ý kiến để thảo luận trong nhóm. Ý kiến thống nhất được ghi nhận để chuẩn bị trình bày trước lớp.
Người trình bày cũng nên luân phiên để tạo điều kiện cho tất cả học sinh được rèn luyện kĩ năng. Trong thời gian học sinh làm việc, giáo viên thường xuyên theo dõi để hướng dẫn, giúp đỡ các nhóm trao đổi thảo luận đúng yêu cầu bài học, tránh thảo luận tùy hứng dẫn đến nguy cơ đi lệch yêu cầu hoặc giáo viên gợi mở thêm nhằm mở rộng kiến thức và giáo dục kỹ năng sống cho các em.
Quy trình như vậy nhưng không dễ để các em nắm được ngay nếu không có sự hướng dẫn chỉ bảo từng bước một.
Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách tự học, thông qua tự trải nghiệm, khám phá, nghiên cứu tài liệu để có được những hiểu biết cá nhân về bài học. Đây cũng là bước khởi đầu của hoạt động nhóm.
Các em làm việc cá nhân cùng với tài liệu học tập. Lúc này học sinh tích cực, chủ động huy động kiến thức, vốn sống, vốn hiểu biết cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ. Tài liệu của các em là sách giáo khoa, vở bài tập, từ điển...
Quá trình này đối với học sinh có lực học khá giỏi là đơn giản, nhưng đối với các em học yếu thì còn gặp khó khăn. Giải pháp của giáo viên lúc này là khuyến khích các em tìm kiếm sự trợ giúp từ thầy cô, bè bạn.
Sau học cá nhân, học sinh sẽ chia sẻ trong cặp đôi và sau đó là trao đổi trong nhóm. Trong quá trình tự học rất nhiều vấn đề nảy sinh mà mỗi cá nhân không thể tự mình giải quyết hoặc kiểm chứng, trao đổi với bạn cùng bàn và trong nhóm sẽ giúp các em tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong lúc tự học.
3.2.3.4. Theo dõi, can thiệp và điều chỉnh tiến trình hợp tác nhóm
Trong quá trình theo dõi hoạt động của các nhóm, giáo viên đưa ra những gợi ý, nhắc lại những biện pháp và cách thức để hoàn thành công việc được giao, giải đáp các thắc mắc và dạy các kĩ năng thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết.
Đối với những nhóm chưa thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tích cực, giáo viên đến gần và cùng tham gia, làm mẫu cho học sinh. Khi học sinh gặp khó khăn, giáo viên đưa ra những gợi ý cần thiết như liên hệ những kiến thức đang trao đổi với những kiến thức học sinh đã được học, tạo ra mối quan hệ giữa kiến thức mới và những kiến thức học sinh đã biết, đã trải nghiệm.
Giáo viên cần chú ý quan tâm đến hoạt động của các học sinh yếu trong nhóm, đặc biệt là trong quá trình các em tự học, giúp các em hiểu bài để các em tự tin hơn khi trao đổi với bạn cùng bàn và với nhóm. Với các học sinh khá giỏi, giúp các em khắc sâu và mở rộng kiến thức bằng những câu hỏi phụ nhằm định hướng cho các em nâng cao kiến thức.
Trong quá trình theo dõi các nhóm hoạt động, cố gắng quan tâm đến tất cả các nhóm ở mỗi phần công việc, vì ở nhóm nào cũng có đối tượng yếu cần giúp đỡ và đối tượng giỏi cần nâng cao kiến thức và cũng để nhắc nhở, động viên khích lệ các em làm việc tốt hơn.
Khi gặp vấn đề khó, tất cả các nhóm đều vướng mắc, giáo viên tổ chức hoạt động chung của cả lớp giúp các em tháo gỡ kịp thời. Với từng bài học cụ thể, giáo viên cần dự kiến trước các khó khăn của đa số học sinh để quan sát và giúp đỡ đúng thời điểm.
3.2.3.5. Tổ chức báo cáo và nhận xét tương tác nhóm
Trước khi cho đại diện nhóm trình bày, giáo viên cần nêu lại vấn đề để cả lớp tập trung lắng nghe. Phải rèn cho học sinh có thói quen lắng nghe và khuyến khích các em đưa ra nhận xét cụ thể hoặc ý kiến bổ sung cho nội dung nhóm bạn vừa trình bày. Cao hơn nữa là tập cho học sinh đặt vấn đề, nêu câu hỏi tạo tình huống phản biện.
Giáo viên hướng dẫn học sinh luân phiên thay đổi báo cáo viên trong nhóm. Ban đầu , những học sinh có năng lực trình bày lưu loát sẽ báo cáo kết quả, sau đó luân chuyển để em nào cũng được trình bày, nhằm rèn cho các em năng lực trình bày trước đám đông, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp.
Để báo cáo viên có thể trình bày rõ kết quả làm việc của nhóm, nhóm phải tổ chức tập huấn trước, khi đó các em sẽ đưa ra các tình huống giả định khi nhóm bạn phát biểu ý kiến để chuẩn bị các phương án tranh luận góp ý. Giáo viên cần dự kiến trước các tình huống trả lời của học sinh để có thể xử lí tốt các kết luận.
Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái. Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm cho những hoạt động sau. Những tiêu chí nhận xét cần thiết phải có: Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận. Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kĩ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp. Sự luân phiên trong nhóm.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG 4
 
PHẦN KẾT LUẬN
 
4.1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Năm học 2015-2016: Kết quả môn tiếng Anh
Lớp 6 Kết quả học kì I Kết quả học kì II
27 học sinh Khá: 0 chiếm 0%
Tb: 20 chiếm 74.07%
Yếu: 7 chiếm 25.93%
Khá: 7 chiếm 25.93%
Tb: 16 chiếm 59.26%
Yếu: 4 chiếm 14.81%
 
Năm học 2016-2017: Kết quả môn tiếng Anh
Lớp 6 Kết quả học kì I Kết quả học kì II
19 học sinh Khá: 3 chiếm 15.79%
Tb: 16 chiếm 84.21%
Yếu: 0 chiếm 0%
Khá:
Tb:
Yếu:
 
4.2. PHẠM VI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Có thể áp dụng rộng rãi cho các Trường trên địa bàn huyện Ba Tơ.
4.3. VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN
Như đã nói ở trên, sáng kiến này được viết từ những kinh ngiệm mà bản thân đã nghiên cứu và rút ra được từ năm 2015 đến nay nên nó đã được bản thân vận dụng vào quá trình công tác từ đó đến nay. Trong quá trình vận dụng nó cũng có những điều không phù hợp, bản thân cũng đã thay đổi rất nhiều và cuối cùng bản thân cũng rút ra được những kinh nghiệm quý báu như đã trình bày trong sáng kiến này.
Ngoài lớp 6 ra, bản thân còn áp dụng được vào các lớp 7, 8, 9. Có điều khác ở đây là các em học sinh ở khối lớp 7, 8, 9 mạnh dạn hơn.
4.4. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Dạy học môn tiếng Anh là một vấn đề đang được quan tâm rất nhiều và đặc biệt là trong giai đoạn này. Bản thân cũng đã từng tham gia rất nhiều lớp tập huấn tại tỉnh (có lớp kéo dài gần 2 tháng) cũng đều liên quan đến dạy học và đánh giá môn học này. Điều bản thân mong muốn nhất là ở trường có một phòng nghe nhìn với đầy đủ thiết bị chuyên dùng để chuyên dạy môn tiếng Anh. Bản thân mong muốn như vậy là vì tiếng Anh là một học rất đặc biệt – chỉ có những người giáo viên tâm huyết mới hiểu được.
 
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
 
Ba Khâm, ngày 02 tháng 04 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến bản thân thực hiện, không sao chép của người khác; nếu vi phạm sẽ chịu xử lý theo quy định./.
(Ký và ghi rõ họ tên)
 
 
 
 
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Kỹ năng tổ chức hoạt động cặp – nhóm của Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Hoa.
2. Sách thiết kế bài giảng tiếng Anh 6 của Nguyễn Minh Hoài (Nhà xuất bản Hà Nội)
3. Các diễn đàn nói về cách tổ chức các hoạt động dạy học. (Internet)
………………………………………………
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
DUYỆT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CỦA CÁC CẤP
 
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
DUYỆT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CỦA CÁC CẤP
 
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
DUYỆT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CỦA CÁC CẤP
 
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Tác giả bài viết: Bùi Văn Nhâm

Nguồn tin: Tài liệu phục vụ dạy và học

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Tin cùng chuyên mục

Thành viên

Tin mới nhất

Vì sự phát triển của giáo dục
Vì sự phát triển của giáo dục
Vì sự phát triển của giáo dục
Vì sự phát triển của giáo dục
Vì sự phát triển của giáo dục

Lời hay ý đẹp

Đừng phấn đấu để thành công mà hãy phấn đấu để mình có ích.

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG